Về Quê Ngoại (Chương 10)

   


Về Quê Ngoại (Chương 10)

Cả ngày hôm qua không làm gì nhiều nên sáng nay tôi tỉnh táo và thức sớm hơn. Hai đứa con vẫn còn say sưa trong giấc ngủ; tui bắt nồi cơm lên định lấy con mắm trê ra chưng thì nghe tiếng thằng Việt kêu dưới mé sông.

- Chị sáu ơi! Tui cho chị 10 con chuột mới làm nè. Đừng cho ông Ba tui hay nha! Ổng dặn để đem về cho má. Còn mấy ngày mới về ngoải, gần về thì kiếm cái khác!

Tui chạy nhanh ra chộp ngay xâu chuột. Chuột đồng mà ngon “bá chấy bò chét”. Thằng Việt biết tánh tui hết trơn. Hai chị em cô cậu cùng một tuổi mà thấy nó tội ghê, bị cậu tui đày đủ thứ loại. Nó có gì ngon thì mau tay giấu để cho chị sáu ăn.

Tui làm lại cho thiệt sạch 10 con chuột mỡ dầy trắng phao. Chia ra làm 3, một phần chặt đôi ướp chiên giòn, một phần chặt làm tám chiên sơ để kho tiêu, một phần chặt làm sáu chiên sơ xào lá cách băm nhuyễn(phải có đậu phọng rang đâm rắc lên thì ngon hơn nữa). Phải ở chợ thì nấu lẩu chua mới đủ gia vị. Vậy là sáng nay ba mẹ con lại có buổi ăn quá thịnh soạn. Tui đem theo cơm và thịt chuột kho tiêu vào trong đám lá. Công việc xong xuôi thì 2 đứa con cũng vừa thức dậy. Chuẩn bị cho con bú và cho Thủy ăn xong thì tiếng vợ chồng chị Bảy cũng om sòm dưới sông. Lúc đầu tui thấy chị Bảy không mấy cảm tình, nhưng khi tiếp xúc thì chị rất là dễ thương. Phải chi chị ta đừng nhai trầu thì thương bả nhiều hơn. Tui kêu Linh con chị Ba qua chơi với 2 chị em nó rồi khăn gói xuống đi ké xuồng của anh chị Bảy. Tiếng chị Bảy đều đều.

- Dân chợ về đây chắc khổ lắm. Dì Sáu có tiền thì đở một chút, còn tụi tui làm ngày nào ăn ngày nấy; ăn không đủ thì đừng nói mặc! Không có nghề gì kiếm ra tiền thì đi vay mượn bạc lúa, bạc mùa, ở đây thì sống chết với nghề chằm lá mà thôi.

- Tuần sau tui về Rạch Sỏi chừng 2 ngày để tui soạn quần áo cũ cho mấy đứa con chị mặc. Thấy tụi nó tơi tả quá!

Đôi mắt chị Bảy sáng lên niềm vui hiện rõ nét trên khuôn mặt đã có nhiều đường nhăn. Tui không bớt tiền mua lá cho 2 vợ chồng chị Bảy, nhưng thường xuyên mua đồ ăn hay đồ dùng cho bọn nhỏ. Thắm thoát đã gần một tháng, 3 mẹ con tui cũng đã hòa nhập vào nếp ở quê. Tui tập bơi xuồng, tập chằm lá, tập đốn lá, tập chặt củi, dù hổng giỏi nhưng cũng tàm tạm. Ngày nào cũng quá giang xuồng vô lá rồi lội bộ theo con đường đê trở ra. Lúc này mưa vào mùa nên tụi “vắt” được thế thượng phong. Ngày nay nó dám men lên tới lưng quần tui mà hút máu. Đúng là cái bọn ký sinh. Ngày nào tui cũng chặt vài chục con đeo trong ống quần hay lưng quần rồi quăng vào bếp lửa xèo! Thơm chưa? Trời, bắt đầu trút cơn giận dữ, tui ngồi co ro trùm cái miếng cao su đậy lá của chị Bảy Đài. Có nước thì bầy vắt cứng đơ bắt đầu “thức dậy” săn máu tươi. Con nào bám vô chân tui là chết ngay tức khắc, không cho nó hút máu tới tròn vo nữa đâu! Trời mưa càng lớn hơn, tui hỏi:
- Trời mưa cũng đốn lá luôn hả?

- Đốn chứ dì, gặp mưa đốn lá khỏe hơn!

- Ui trời! Lạnh chết.

- Ngồi không thì lạnh, chứ làm như trâu nằm vũng thì dễ gì biết lạnh, kiếp nghèo là vậy đó Sáu ơi!

- Tui chịu mưa không nổi đâu.

- Uh! Dì Sáu mới sinh gần 2 tháng thôi mà, nghĩ cũng tội!

Tiếng anh Bảy gọi vợ:

- Mau lên, chỉ chỗ cho Dì Sáu ngồi rồi tiếp tui lẹ lên!

Hai ông bà làm rất nhanh. Tui xòe tay ra đón lấy ngụm nước mưa trút xuống rồi kê miệng húp, thầm thì trong đầu “ngon ngọt thiệt” tui lấy gói cơm ra ăn vì bao tử réo gọi. Cơn mưa không dứt hạt, kéo dài, và tui nghĩ rằng sẽ bệnh ngay tối nay vì tay tui rất lạnh, chân tui co rút. Lúc sinh Thủy tui đã sốt làm cử gần 2 tuần lễ. Môi tui thâm đen như gan gà. Trận mưa hôm nay Chắc chắn là không ổn. Tiếng anh Bảy giục chị làm lẹ rồi anh nói với tui:

- Dì Sáu ơi! Trời mưa kiểu này, ban đêm dì ra thăm chừng lá không thôi bọn trộm nó ăn cắp cà bắp là bụi lá mất sức đến cả năm sau đó.

- Là sao?

- Thì bọn trộm nó canh. Dây lạt lúc này mắc lắm. Tụi tui chẻ dây tre không hè.

Tui nghe nói nhưng chưa hình dung được sự việc. Để về nói với anh chị ba coi sao!

Hai vợ chồng Bảy Đài người rốc, người bó cũng nhanh ghê. Tui thì nhìn đuôi lá đếm. Nước ngập chỗ rốc lá nên 2 vợ chồng cũng dễ dàng đạp đuôi lá để ăn gian mình. Thôi kệ, họ nghèo và vất vả quá tui vờ như chẳng biết gì. Trời mưa đến trời dứt mưa, từ khô đến ướt mà hai ông bà vẫn bình thường như không, tui hỏi:

- Bây giờ mà về tới nhà, ăn cơm, tắm rửa là nhào vô mùng ngủ luôn được rồi phải hông chị bảy?

- Trời! Tắm cả buổi trong này rồi, tắm chi nữa?

- Hả? Vậy là rồi đó hả?

Chị Bảy gật gù nói:

- Ông cọp có tắm đâu cũng gọi là ông. Mà tui tắm hoài cũng là Bảy Đài!

- Ui! Tui sợ thiệt tình nghen, nghe đồn tưởng là nói chơi thôi... ai dè!

Anh Bảy ôm mấy bó lá đem xuống xuồng vừa nói.

- Tụi tui không chê nhau là được rồi.

Pó tay thiệt, hai ông bà trả tiền xong lui xuồng theo con kinh trở ra. Tui thì men theo bờ ruộng lội trở ra, tay cầm đèn pin soi đường, tay cầm cây dao hộ thân. Hết mưa nhưng đường trơn trợt khó đi dù tui đã mang giầy cổ cao, đôi chân rã rời cả thân mình như bị đổ nhào muốn té mấy lần. Tui ngồi xuống cho tỉnh táo lại rồi đứng lên đi tiếp. Xa xa ngọn đèn nhà cậu mười tui càng gần, càng to. Tiếng nói chuyện của chị Tư Nguyệt và anh Út Dũng in ỏi cười ròn rã, kể chuyện ngày trước 1975. Nhớ nhiều vui buồn lẫn lộn một thời vang danh. Thấy ánh đèn pin của tui chị tưởng ai đi qua nên im bặt, tui lên tiếng:

- Em nè chị ơi!

- À... tưởng đâu ai, mày trong lá ra tối mịt vậy?

- Dạ, hôm nay mắc mưa vợ chồng Bảy Đài đốn hơi trể, chịu thôi.

Tôi đi về phía nhà tui, tắm nhanh để qua nhà chị ba ẩm con về.

Cây đèn dầu nhà chị ba mở to ngọn. Ánh sáng đủ soi thấy 2 ống chân của tui đầy vết vắt cắn. Tui bắt ra nhiều mà vẫn không khỏi đám hút máu mình. Tui lấy chai dầu thoa vào mấy chỗ có vết đỏ, vừa thoa, vừa hỏi:

- Tui nghe nói bọn ăn cắp cà bắp chờ trời mưa là...

Chị ba tui ngắt lời:

- Chờ có mưa nó vô ruồng cà bắp. Nhà có đàn ông còn lạng ra, lạng vô nó sợ. Một mình mầy, nó ăn cắp xé tại chỗ.

Anh ba tui nói lớn hơn:

- Lén phén nó cầm dao chém chết luôn chứ, ai lạ đâu!

- Sao không đi thưa nó?

- Bà con giòng họ nhà mình thôi mày ơi!

Chị ba tui nói:

- Hôm nào có mất cà bắp đi. Tao chỉ người ăn trộm đó cho.

Cũng lạ thiệt, anh chị ba tui biết hết vậy ta. Tui nhanh tay ẩm bé Vân và dắt Thủy đi về.

Căn nhà này giờ quá quen thuộc với 3 mẹ con tui. Từng ngốc ngách, từng chỗ, từng nơi đã quá thân thương. Bước vô nhà, tui đốt ngọn đèn bão treo lên vách và giăng mùng cho 2 đứa con vào đó. Tui đốt bếp lên, và nướng cục gạch tiểu để xông vì biết mình đã cảm lạnh. Từng hồi, từng hồi cơn ớn lạnh cứ chạy dọc theo sống lưng. Tui rùng mình mấy cái, và át xì liên tục. Bé Vân ọ ẹ đòi bú; tui leo lên võng cho con bú và để thêm củi cho cục gạch thật đỏ mới xông được.

Bé Vân bú một lúc là ngủ say; Thủy nằm trong mùng chơi một lát cũng ngủ. Tui ẩm bé Vân để vô mùng rồi bắt đầu gắp cục gạch đã nướng đỏ bỏ ra cái đĩa đá, rót một cóc rượu gốc, và lấy bọc đựng hột hẹ trùm mền kính hơi. Toàn thân ướt đẫm, hơi nóng của cục gạch hòa mùi rượu cùng hột hẹ làm tui dễ chịu quá. Nước trong người như được lấy ra hết. Tui tỉnh hơn và chờ đến khi cục gạch nguội hẳn tui mới tung mền ra và lao toàn thân. Chừng nửa giờ sau tui vô nằm và ngủ thiếp đi.

Bạch Huệ